KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG THỊT của hai tổ hợp dê lai ♂ JumNAPAri x ♀ F1 (bách thảo x Cỏ)  và ♂ boer ♀ F1 (bách thảo x Cỏ)  NUÔI TẠI bỉm sơn THANH HÓA

Tống Minh Phương1, , Hoàng Văn Sơn1, Lê Văn Thành1
1 Trường Đại học Hồng Đức

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Nghiên cứu này thực hiện tại trang trại chăn nuôi tập trung của công ty Thanh Ninh - Phường Bắc Sơn - Bỉm Sơn - Thanh Hoá từ năm 2023 - 2024 nhằm đánh giá khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng thịt của hai tổ hợp dê lai ♂ Jumnapari x ♀ F1( Bách Thảo x Cỏ) và ♂ Boer x ♀F1 (Bách Thảo x Cỏ). Con lai được sinh ra từ tổ hợp ♂ Boer x ♀ F1 (Bách Thảo x Cỏ) có khả năng sinh trưởng tuyệt đối, sức sản xuất và chất lượng thịt cao hơn so với con lai từ tổ hợp  ♂ Jumnapari x ♀ F1(BT x Cỏ). Tỷ lệ thịt xẻ, tỷ lệ thịt tinh của dê lai ♂Boer x ♀ F1 (Bách Thảo x Cỏ) là 51,72% và 40,54%; ở tổ hợp ♂Jumnapari x ♀ F1( Bách Thảo x Cỏ) lần lượt là 50,03% và 39,05%. Tỷ lệ mất nước bảo quản của con lai từ hai tổ hợp là tương đương nhau. Diện tích cơ thăn của dê từ tổ hợp lai ♂Boer x ♀F1 (Bách Thảo x Cỏ) là 13,94 cm2 cao hơn sơ với dê lai tổ hợp  ♂Jumnapari x ♀ F1(Bách Thảo x Cỏ) là 13,5 cm2. Sử dụng dê lai từ tổ hợp ♂ Boer x ♀ F1 (Bách Thảo x Cỏ) cho khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng thịt cao hơn so với dê lai tổ hợp ♂ Jumnapari x ♀ F1( Bách Thảo x Cỏ).


 


Từ khóa: Jumnapari, Boer, Bách Thảo, Sinh trưởng tuyệt đối, Chất lượng thịt.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Đinh Văn Bình, Nguyễn Duy Lý (2003), Kết quả nghiên cứu và phát triển chăn nuôi dê của Trung tâm nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây – Viện Chăn nuôi (1999 – 2001), Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 6, tr 82-84
[2] Đinh Văn Bình, Ngô Quang Trường (2003), Kết quả nghiên cứu sử dụng dê đực Bách Thảo và Ấn Độ lai cải tạo dê cỏ tại Lạc Thuỷ - Hoà Bình, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.
[3] Lê Anh Dương (2007), Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và khả năng sản suất của dê Cỏ, dê Bách Thảo, con lai F1, con lai F2 nuôi tại Đắk Lắk, Luận văn Thạc sĩ Nông nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội.
[4] Nguyễn Thanh Hải, Đỗ Hoà Bình (2020), Khả năng sinh trưởng và sức kháng bệnh của dê Boer và F1 (Boer x Bách Thảo) nuôi tại Thành phố Hồ Chí Minh, Tạp chí Khoa học Công nghệ chăn nuôi, 99, tr 8 – 16.
[5] Bùi Khắc Hùng (2015), Nghiên cứu khả năng sản xuất của một số tổ hợp lai giữa dê Boer, Bách Thảo và Cỏ tại Ninh Bình, Yên Bái và Bắc Kạn. Luận án tiến sĩ Nông nghiệp, Đại học Nông gnhiệp Hà Nội.
[6] Nguyễn Bá Mùi, Đặng Thái Hải (2010 a), Đặc điểm ngoại hình và khả năng sinh trưởng của dê cỏ, F1 (Bách Thảo × Cỏ) và con lai Boer × F1 (Bách Thảo × Cỏ) nuôi tại Ninh Bình, Tạp chí Khoa học và Phát triển, 8(1), tr. 82-89.
[7] Nguyễn Bá Mùi, Đặng Thái Hải (2010 b), Năng Suất và chất lượng thịt của dê cỏ, F1 (Bách Thảo × Cỏ) và con lai Boer × F1 (Bách Thảo × Cỏ) nuôi tại Ninh Bình, Tạp chí Khoa học và Phát triển, 8(2), tr.258 -262.
[8] Trần Văn Thăng, Nguyễn Hữu Hoà, Hà Thị Hảo (2017), Lai giống và đánh giá khả năng sinh trưởng của dê lai F1(Boer x Địa phương) tại trung tâm giống cây trồng vật nuôi Phó Bảng, Hà Giang, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, 161(1) tr 11 – 16.
[9] Lê Văn Thông (2005), Nghiên cứu một số đặc điểm của giống dê Bách Thảo tại vùng Thanh Ninh. Luận án tiến sĩ Nông nghiệp, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, Hà Nội.
[10] Nguyễn Hải Quân, Nguyễn Thiện (1997), Chọn lọc và nhân giống gia súc, NXB Nông nghiệp Hà Nội, Hà Nội.
[11] Phạm Văn Sỹ, Đậu Văn Hải, Vũ Minh Dậu (2021), Ảnh hưởng của quả Điều ủ chua trong khẩu phần ăn đến khả năng sinh trưởng của dê thịt, Tạp chí khoa học Công nghệ Chăn nuôi, 125 tr 48-55.
[12] Bộ Khoa học công nghệ (1997), Tiêu chuẩn Việt Nam, Phương pháp xác định sinh trưởng tuyệt đối của giá súc, TCVN 239 -77.
[13] Bộ Khoa học công nghệ (2002), Tiêu chuẩn Việt Nam, Phương pháp lấy mẫu và chuẩn bị mẫu, TCVN 4833.
[15] Baruah C. K., B. N. Sakia, P. Chakravorty and S. A. Choudhury (2000), Yield and composition of milk in Assam local and Beetal × Assam local crossed goats, Proceedings of 7th International Conference on Goats, 15-18 May, Tours, France.
[16] Manjunath Patil , Pradeep Kumar, Raju G Teggelli and Prahlad Ubhale. 2014, A Study on Comparison of Stall Feeding System of Goat Rearing with Grazing System. Available online at www.sciencedirect.com.
[17] Marchiori A.F., De Felicio P.E., (2003). Qualty of wild boar meat and commercial pork. Sci Agric. 60:1-5.
[18] Tomovic V.M., Zlender B.A., Jokanovic M.R., Tomovic M.M., Sojic B.V., (2014). Sensory, physical and chemical character- istics of meat from free-range reared Swallow-Belly Mangulica pigs, J. Anim. Plant Sci., 24: 704-13
[19] Warriss P.D., Brow S.N., (1995). The relationship between reflectance EEL value and colour in pork loins, Anim.Sci.,61:145-47.
[20] Warner. R.D., Kauffmanf R.G., & Greaser M.L (1997), Muscle protein change post mortem in relation to pork quality traits. Meat Science 45 (3), 339-352.