ĐA DẠNG CÔN TRÙNG HỌ XÉN TÓC (CERAMBYCIDAE) TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN PÙ LUÔNG, TỈNH THANH HOÁ

Phạm Hữu Hùng1, , Nguyễn Hữu Hảo1, Lại Thị Thanh1
1 Trường Đại học Hồng Đức

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Kết quả điều tra bằng phương pháp lập tuyến và điểm tại Khu bảo tồn thiên nhiên (Khu BTTN) Pù Luông đã xác định được 490 cá thể thuộc 25 loài, 19 giống của họ Cerambycidae, trong đó giống Chlorophorus có số loài nhiều nhất với 4 loài, chiếm 16,0% tổng số loài; giống Agelasta, Batocera và Dorysthenes đều có 2 loài, chiếm 8,0%; các giống còn lại chỉ có 1 loài, chiếm 4,0%. Chỉ số Shannon cao nhất ở sinh cảnh bản làng và nương rẫy (H = 3,08), tiếp đến là rừng thứ sinh (H = 3,03), thấp nhất ở rừng nguyên sinh (H = 0,66). Chỉ số Simpsons cao nhất ở rừng nguyên sinh (D = 0,46) và thấp nhất ở trảng cây bụi xen cây gỗ thứ sinh (D = 0,04). Chỉ số Margalef biến động từ 4,7 đến 11,5 trong đó cao nhất ở rừng nguyên sinh, thấp nhất ở bản làng và nương rẫy. Độ tương đồng cao nhất giữa rừng thứ sinh với bản làng và nương rẫy (SI = 73,93%), thấp nhất giữa rừng nguyên sinh với trảng cỏ thứ sinh (SI = 0,0%). Họ Xén tóc phân bố chủ yếu ở độ cao < 700 m với tỷ lệ 94,7% về số giống và 96,0% về số loài, tương ứng ở độ cao ≥ 700 m là 68,4% và 64,0%.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Averyanov, L.V., Nguyễn Tiến Hiệp, Phan Kế Lộc, Đỗ Tiến Đoan và Regalado, J.C (2003), Điều tra sơ bộ thực vật của rừng nguyên sinh Khu bảo tồn Pù Luông, tỉnh Thanh Hoá, Dự án Bảo tồn sinh cảnh dãy núi đá vôi Pù Luông - Cúc Phương, Tổ chức Bảo tồn động thực vật hoang dã quốc tế - Chương trình Việt Nam và Cục Kiểm lâm, Hà Nội.
[2] Ban quản lý Khu BTTN Pù Luông (2013), Dự án điều tra lập danh lục động thực vật rừng, Viện Sinh thái và Bảo vệ công trình, Hà Nội.
[3] Cao Văn Cường (2018), Nghiên cứu quản lý bảo tồn đa dạng sinh học thực vật tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, Thanh Hóa, Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam.
[4] Furey, N., Infield, M. (eds.) (2005), Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông: Các cuộc điều tra đa dạng sinh học tại các vùng trọng điểm nhằm bảo tồn dãy núi đá vôi Pù Luông - Cúc Phương, Dự án Cảnh quan đá vôi Pù Luông - Cúc Phương, Cục Kiểm lâm Việt Nam và Chương trình hỗ trợ bảo tồn Việt Nam của Tổ chức Bảo tồn Động thực vật hoang dã quốc tế, Hà Nội.
[5] Cao Thị Quỳnh Nga, Tạ Huy Thịnh, Hoàng Vũ Trụ (2014), Khóa phân loại tới các tộc và ghi nhận các giống thuộc phân họ Xén tóc thường (Cerambycinae: Cerambycidae: Coleoptera) ở Việt Nam, Hội nghị Côn trùng học Quốc gia lần thứ 8, Hà Nội.
[6] Cao Thị Quỳnh Nga, Khuất Đăng Long, Tạ Huy Thịnh (2015), Giống xén tóc thường Chlorophorus Chevrolat, 1863 (Cerambycinae, Cerambycidae) và 6 loài ghi nhận mới ở Việt Nam, Hội nghị khoa học toàn quốc về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật lần thứ 6, Nxb. Khoa học Tự nhiên và Công nghệ.
[7] Cao Thị Quỳnh Nga, Khuất Đăng Long, Tạ Huy Thịnh (2016), Bổ sung các loài thuộc giống xén tóc thường Demonax Thomson, 1860 (Coleoptera: Cerambycidae: Cerambycinae) ở Việt Nam, Tạp chí Sinh học, 38(1):19-32.
[8] Cao Thị Quỳnh Nga (2023), Additional records of the genus Ceresium Newman, 1842 (Coleoptera: Cerambycidae: Cerambycinae: Callidiopini) from Vietnam, Academia Journal of Biology, 45(1):101-111, https://doi.org/10.15625/2615-9023/18127.
[9] Lê Bảo Thanh (2017), Bước đầu xác định thành phần loài xén tóc (Coleoptera: Cerambycidae) ở Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh, Hòa Bình, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Lâm nghiệp, (4):130-134.
[10] Đậu Bá Thìn (2013), Nghiên cứu đa dạng thực vật bậc cao có mạch ở Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, Luận án Tiến sĩ Trường Đại học Vinh.
[11] Hoàng Vũ Trụ, Cao Thị Quỳnh Nga, Phạm Văn Phú, Lê Mỹ Hạnh, Phạm Thị Nhị (2020), Ghi nhận mới bốn loài xén tóc giống Niphona Mulsant, 1839 (Cerambycidae: Lamiinae: Pteropliini) ở Việt Nam, Kỷ yếu Hội nghị khoa học 45 năm Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Nxb. Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội.
[12] Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2024), TCVN 14203:2024 Tiêu chuẩn quốc gia, mẫu tiêu bản côn trùng - các yêu cầu, Viện Điều tra, Quy hoạch rừng biên soạn.
[13] Bouchard, P., Bousquet, Y., Davies, A.E., Alonso-Zarazaga, M.A., Lawrence, J.F., Lyal, C.H.C., Newton, A.F., Reid, C.A.M., Schmitt, M., Ślipiński, A. và Smith, A.B.T (2011), Family-group names in Coleoptera (Insecta), ZooKeys, (88):1-972.
[14] Bouchard, P., Smith, A.B.T., Hume, D., Matthew, L.G., Adam, J.B.,Kojun, K. (2017), Biodiversity of Coleoptera: Science and Society, In: Insect Biodiversity, John Wiley & Sons, West Sussex.
[15] IUCN (2025), The IUCN Red List of Threatened Species, Version 2025-2, https://www.iucnredlist.org.
[16] McAleece, N., Gage, J.D.G., Lambshead, P.J.D., Paterson, G.L.J. (1997), BioDiversity Professional statistics analysis software.
[17] Vitali, F., Chemin, G., Gouverneur, X. (2015), Révision du genre Pseudopachydissus Pic, 1933 (Coleoptera: Cerambycidae), L’Entomologiste, 71(3):185-188.