ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG KHÁNG BỆNH KHẢM LÁ DO VIRUS (CASSAVA MOSAIC DISEASE - CMD) CỦA MỘT SỐ GIỐNG SẮN TRỒNG TẠI THANH HOÁ

Đỗ Văn Dũng1, , Cao Thị Hạnh2, Quách Thị Nga1, Nguyễn Khang Duẩn1, Lê Văn Thanh1
1 Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Thanh Hóa
2 Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Thanh Hoá

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Bệnh khảm lá virus (Cassava Mosaic Disease-CMD) đã gây ra nhiều thiệt hại về năng suất và chất lượng của sắn, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất và thu nhập của người trồng sắn. Vì vậy, việc nghiên cứu tìm ra những giống sắn có năng suất cao, chất lượng tốt và kháng được bệnh khảm lá virus không những mang ý nghĩa khoa học mà còn có giá trị thực tiễn cao. Kết quả nghiên cứu đã xác định được hai giống sắn là HN5 và HN3 có khả năng kháng bệnh khảm lá virus, cho năng suất và chất lượng cao hơn giống KM140 (đối chứng). Trong đó, giống sắn HN5 có giá trị kháng bệnh khảm lá tốt nhất, năng suất vượt trội về số củ/khóm đạt 9,7, khối lượng củ/khóm đạt 3,8 kg, năng suất lý thuyết đạt 47,5 tấn/ha và năng suất thực thu đạt 41,03 tấn/ha; tiếp đến là giống sắn HN3 và KM140. Đây là cơ sở cho việc khuyến cáo đưa giống HN5 vào cơ cấu sản xuất sắn tại Thanh Hóa nhằm nâng cao hiệu quả canh tác sắn.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] Nguyễn Văn Bộ (2015), Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống sắn mới tại Việt Nam, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội.
[2] Trần Văn Chiến, Lê Thị Hương Lan, Nguyễn Hoàng Trung Anh, Nguyễn Minh Trang, Trịnh Xuân Hoạt, Hà Viết Cường (2025), Hiện trạng và tác động của một số yếu tố dịch tễ đến bệnh khảm lá sắn tại Việt Nam, Tạp chí khoa học Nông nghiệp Việt Nam, 23(8), trang 1003-1014.
[3] Trần Thị Hoàng Đông, Lê Khắc Phúc, Lê Văn Thơ, Võ Thị Như Trang, Nguyễn Ngọc Tâm và Trương Thị Ngọc Thúy (2025), Nghiên cứu một số dòng/giống sắn kháng bệnh khảm lá tại tỉnh Quảng Bình, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 24(1), trang 1-10.
[4] Nguyễn Thị Lý, Trần Văn Minh, Phạm Văn Hùng (2020), Ảnh hưởng của giống và biện pháp kỹ thuật đến năng suất sắn tại miền Trung, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 20(2), pp 45-52.
[5] Phạm Thị Nhạn , Nguyễn Bá Tùng, Trương Minh Hoà, Nguyễn Thị Thu Hương, Võ Văn Tuấn, Trần Trọng Phúc, Nguyễn Phương (2025), Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam, 03(163), trang 3-9.
[6] Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 13268-3:2021, Bảo vệ thực vật - Phương pháp điều tra sinh vật gây hại - phần 3 : Nhóm cây Công nghiệp.
[7] Tổng cục Thống kê (2023), Diện tích, năng suất và sản lượng cây lương thực và thực phẩm ở Việt Nam năm 2022, Nxb.Thống kê, Hà Nội.
[8] Ceballos, H., Iglesias, C. A., Perez, J. C., & Dixon, A. G. O. (2015), Cassava breeding: opportunities and challenges, Plant Molecular Biology, 56(4), pp.503-516.
[9] CIAT (2020), Cassava Mosaic Disease: Global status and management, International Center for Tropical Agriculture.
[10] FAO (2023), FAOSTAT Database - Cassava production statistics in 2022, Food and Agriculture Organization of the United Nations.
[11] Fauquet, C. M. (2008), Cassava mosaic virus disease: Biology, epidemiology and management, Advances in Virus Research, 74, pp.275-306.
[12] Legg, J. P., & Thresh, J. M. (2000), Cassava mosaic virus disease in East Africa: a dynamic disease in a changing environment, Virus Research, 71(1-2), pp.135-149.
[13] Legg, J. P., et al. (2015), Cassava virus diseases: Biology, epidemiology, and management, Advances in Virus Research, 91, pp.85-142.
[14] Thresh, J. M., Otim-Nape, G. W., & Legg, J. P. (2006), Cassava mosaic virus disease in East Africa: a continuing challenge to sustainable cassava production, Annual Review of Phytopathology, 44, pp.309-336.