Tạp chí Khoa học Trường Đại học Hồng Đức
https://hdujs.edu.vn/index.php/hdujs
<p>Trường Đại học Hồng Đức là Trường đại học công lập, đa ngành, trực thuộc UBND tỉnh Thanh Hóa và chịu sự quản lý Nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Trải qua gần 24 năm xây dựng, phát triển; T<span lang="VI">rường Đại học </span>Hồng Đức đã khẳng định <span lang="VI">là một trong những </span>địa chỉ <span lang="VI">đào tạo đại học, sau đại học và nghiên cứu khoa học lớn</span>, <span lang="VI">có uy tín </span>trong tỉnh và khu vực<span lang="VI">.</span> Với đội ngũ 23 phó giáo sư, 161 tiến sĩ và tỉ lệ cán bộ có trình độ sau đại học đạt 95%, Nhà trường đang tổ chức đào tạo 04 chuyên ngành tiến sĩ, 19 chuyên ngành thạc sĩ, 34 ngành đại học và một số chuyên ngành thạc sĩ hợp tác đào tạo với các trường đại học nước ngoài với tổng số gần 10.000 học viên, sinh viên.</p> <p>Năm 2017, Trường Đại học Hồng Đức đã được công nhận Đạt chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục đại học theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; Năm 2019 được xếp hạng 49/256 cơ sở giáo dục đại học có công bố quốc tế tốt nhất Việt Nam; Năm 2020 được Webometrics xếp thứ 36/100 trường đại học tốt nhất Việt Nam,…</p> <p>Tạp chí Khoa học Trường Đại học Hồng Đức là cơ quan ngôn luận chính thức của Trường Đại học Hồng Đức, có chỉ số ISSN 1859 - 2759 (xuất bản bằng ngôn ngữ tiếng Việt) và ISSN 2588 - 1523 (xuất bản bằng ngôn ngữ tiếng Anh), hoạt động theo giấy phép số 14/BTTTT-GPHĐBC ngày 09/01/2009, và Giấy phép số 125/GP-BTTTT, cấp lại ngày 10 tháng 4 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Hồng Đức xuất bản 6 số/năm với ngôn ngữ xuất bản bằng cả tiếng Việt và tiếng Anh. Hơn 12 năm hoạt động, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Hồng Đức đã xuất bản được 66 số tạp chí bằng hai ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Anh với hơn 1000 bài báo khoa học thuộc nhiều khối ngành. Chất lượng bài báo có hàm lượng khoa học ngày càng cao, quy trình xuất bản chặt chẽ, phản biện độc lập, uy tín. Là một phương tiện truyền thông về học thuật, Tạp chí khoa học có sức ảnh hưởng lớn đối với hoạt động Giáo dục và Đào tạo, góp phần quan trọng trong việc xây dựng thương hiệu của Nhà trường.</p> <p>Trên cơ sở kiểm tra các nguồn lực và chất lượng bài đăng Tạp chí, tính đến nay Hội đồng Giáo sư Nhà nước đã công nhận tính điểm công trình cho 5 ngành Tạp chí của Nhà trường cụ thể như sau: Văn học (0 - 0,5đ), Nông nghiệp - Lâm nghiệp (0 - 0,5đ); Giáo dục học (0 - 0,25đ); Vật lý (0 - 0,25 đ) và Kinh tế (0 - 0,25 đ). Tháng 12/2017, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Hồng Đức đã tham gia cơ sở dữ liệu “Tạp chí Khoa học Việt Nam trực tuyến” (Vietnam Journals Online, VJOL) do Cục Thông tin khoa học và Công nghệ Quốc gia (Bộ Khoa học và Công nghệ) quản lý. Hiện nay, Tạp chí được truy cập tại địa chỉ: <a href="http://hdu.edu.vn/vi-vn/28/209/Tap-chi-khoa-hoc/" target="_blank" rel="noopener">http://hdu.edu.vn/vi-vn/28/209/Tap-chi-khoa-hoc/</a> hoặc <a href="https://www.vjol.info.vn/">https://www.vjol.info.vn/</a><u> </u><a href="https://www.vjol.info.vn/index.php%20/DHHD/issue/archive">index.php /DHHD/ issue/archive</a> (số tiếng Việt) và <a href="https://www.vjol.info.vn/">https://www.vjol.info.vn/</a> <u>index. php/HDU/ issue/ archive</u> (số tiếng Anh).</p> <p>Để tiếp tục nâng cao chất lượng, uy tín và khách quan cũng như tạo sự lan tỏa của Tạp chí trong cộng đồng nghiên cứu, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Hồng Đức chào đón các nhà Khoa học, giảng viên, nghiên cứu viên trong nước và quốc tế tham gia gửi bài và cộng tác nhiệt tình để Tạp chí Nhà trường mang đến độc giả những kết quả, thông tin hữu ích có giá trị khoa học.</p> <p>Ban trị sự xin trân trọng cảm ơn!</p> <p align="center"><strong> BAN TRỊ SỰ TCKH</strong></p> <p><strong> TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC</strong></p>Tạp chí Khoa học Trường Đại học Hồng Đứcvi-VNTạp chí Khoa học Trường Đại học Hồng Đức3030-4768SỬ DỤNG CHỈ THỊ DNA BARCODE ĐỊNH LOẠI LOÀI KHỔ SÂM (Croton SP.) ĐƯỢC THU HÁI TẠI XÃ NHƯ XUÂN, TỈNH THANH HOÁ
https://hdujs.edu.vn/index.php/hdujs/article/view/819
Sử dụng các chỉ thị phân tử (DNA barcode) để nhận diện các loài sinh vật nói chung, các loài thực vật dược nói riêng luôn có độ tin cậy cao. Đặc biệt là các loài quý hiếm, loài có giá trị trong thực tiễn. Về bản chất, DNA barcode là kỹ thuật sử dụng một trình tự DNA (khoảng 400-1000 bp) như một chỉ thị để xác định quan hệ chủng loài và nhận diện các loài sinh vật một cách nhanh chóng và chính xác và có thể nhận diện các loài thực vật dược giả mạo hoặc các loài quý hiếm cần được bảo tồn,… Do vậy, vấn đề này đang được sự quan tâm đặc biệt của các nhà khoa học trong và ngoài nước, đặc biệt là những loài đồng hình, hoặc những mẫu vật chưa phát triển hoàn thiện, hoặc những mẫu không có hình thái nguyên vẹn. Vì vậy, trong bài viết này, chúng tôi đề cập đến việc nhận diện loài Khổ sâm (Croton sp.) bằng trình tự DNA barcode trnH. Kết quả đã phân lập và xác định được trình tự của kích thước của gene trnH. Thông qua việc so sánh với các dữ liệu trên ngân hàng gen, trình tự nucleotide của gene này được xác định là loài Croton kongensis.TS. Lê Đình ChắcHoàng Thị Hà
Copyright (c) 2025 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Hồng Đức
2025-11-302025-11-3051010.70117/hdujs.81.11.2025.819XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU BARCODE RPOB CHO CÂY MẬT GẤU (VERNONIA AMYGDALINA DEL.) TẠI TỈNH THANH HOÁ
https://hdujs.edu.vn/index.php/hdujs/article/view/1088
DNA barcode là một trình tự DNA có chiều dài khoảng 400-1000 bp được sử dụng làm chỉ thị phân tử để xác định quan hệ phát sinh chủng loài và nhận diện loài một cách nhanh chóng, chính xác, không phụ thuộc vào đặc điểm hình thái của các mẫu sinh vật. Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành phân lập, xác định trình tự và quan hệ di truyền của gene rpoB loài cây Mật gấu (Vernonia amygdalina Del.) làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo. Kết quả giải trình tự đoạn gene rpoB có kích thước 506 bp, được sử dụng để phân tích so sánh trình tự rpoB đã công bố trên GenBank cho thấy đoạn gene rpoB của mẫu nghiên cứu có quan hệ di truyền tách biệt hoàn toàn khỏi các nhóm khác của các trình tự rpoB đã công bố. Kết quả này đã chứng minh trình tự gene rpoB của các mẫu nghiên cứu có độ sai biệt di truyền đáng kể so với các trình tự gene rpoB trên GenBank. Điều này cho thấy độ tin cậy và chính xác khi sử dụng đoạn gene rpoB để xác định quan hệ di truyền của loài cây Mật gấu (Vernonia amygdalina Del.).Nguyễn Việt HảiTS. Lê Đình ChắcLê Thị Lâm
Copyright (c) 2025 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Hồng Đức
2025-11-302025-11-30111810.70117/hdujs.81.11.2025.1088NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ CHẤT KÍCH THÍCH RA HOA ĐẬU QUẢ ĐẾN NĂNG SUẤT & CHẤT LƯỢNG HẠT GIỐNG SÂM BÁO (ABELMOSCHUS SAGITTIFOLIUS (KURZ) MERR.)
https://hdujs.edu.vn/index.php/hdujs/article/view/1073
Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của một số thuốc kích thích ra hoa đậu quả đến năng suất, chất lượng hạt giống Sâm báo nhằm mục đích lựa chọn được loại thuốc kích thích sinh trưởng phù hợp để nâng cao hiệu quả sản xuất hạt giống. Kết quả cho thấy khi sử dụng 0,28 kg thuốc điều hòa sinh trưởng kích phát tố cho hoa trái Thiên Nông pha 560 lít nước phun cho 1 ha cây Sâm báo; phun trước kỳ ra hoa 10 ngày giúp cây ra hoa sớm, nhiều hoa, đậu nhiều quả, đạt trung bình 25 quả/cây; quả có phẩm chất tốt, ngăn ngừa rụng quả non, chắc hạt, tỷ lệ hạt chắc đạt 90%; năng suất hạt giống đạt 1,18 kg/ha.Lê HoànNguyễn Bá ThôngĐào Văn ChâuNguyễn Việt Hải
Copyright (c) 2025 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Hồng Đức
2025-11-302025-11-30192710.70117/hdujs.81.11.2025.1073ĐA DẠNG CÔN TRÙNG HỌ XÉN TÓC (CERAMBYCIDAE) TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN PÙ LUÔNG, TỈNH THANH HOÁ
https://hdujs.edu.vn/index.php/hdujs/article/view/1076
Kết quả điều tra bằng phương pháp lập tuyến và điểm tại Khu bảo tồn thiên nhiên (Khu BTTN) Pù Luông đã xác định được 490 cá thể thuộc 25 loài, 19 giống của họ Cerambycidae, trong đó giống Chlorophorus có số loài nhiều nhất với 4 loài, chiếm 16,0% tổng số loài; giống Agelasta, Batocera và Dorysthenes đều có 2 loài, chiếm 8,0%; các giống còn lại chỉ có 1 loài, chiếm 4,0%. Chỉ số Shannon cao nhất ở sinh cảnh bản làng và nương rẫy (H = 3,08), tiếp đến là rừng thứ sinh (H = 3,03), thấp nhất ở rừng nguyên sinh (H = 0,66). Chỉ số Simpsons cao nhất ở rừng nguyên sinh (D = 0,46) và thấp nhất ở trảng cây bụi xen cây gỗ thứ sinh (D = 0,04). Chỉ số Margalef biến động từ 4,7 đến 11,5 trong đó cao nhất ở rừng nguyên sinh, thấp nhất ở bản làng và nương rẫy. Độ tương đồng cao nhất giữa rừng thứ sinh với bản làng và nương rẫy (SI = 73,93%), thấp nhất giữa rừng nguyên sinh với trảng cỏ thứ sinh (SI = 0,0%). Họ Xén tóc phân bố chủ yếu ở độ cao < 700 m với tỷ lệ 94,7% về số giống và 96,0% về số loài, tương ứng ở độ cao ≥ 700 m là 68,4% và 64,0%.TS Phạm Hữu HùngTS Nguyễn Hữu HảoLại Thị Thanh
Copyright (c) 2025 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Hồng Đức
2025-11-302025-11-30283810.70117/hdujs.81.11.2025.1076PHÂN LẬP MỘT SỐ HỢP CHẤT TỪ THÂN RỄ THÂN RỄ CÂY NGHỆ VÀNG (CURCUMA LONGA) Ở VƯỜN QUỐC GIA BẾN EN, TỈNH THANH HÓA
https://hdujs.edu.vn/index.php/hdujs/article/view/1006
TÓM TẮT Cây nghệ vàng (Curcuma longa) là một loài thực vật thuộc họ Gừng (Zingiberaceae), có nhiều tác dụng sinh học, như hỗ trợ tiêu hóa, chống viêm, chống oxy hóa và tiềm năng trong phòng ngừa ung thư. Chính vì vậy, nghệ vàng không chỉ được sử dụng rộng rãi trong ẩm thực mà còn là đối tượng nghiên cứu quan trọng trong y học cổ truyền và hiện đại. Trong phạm vi nghiên cứu này, ba hợp chất đã được phân lập từ cao chloroform từ thân rễ của cây Nghệ vàng (Curcuma longa), gồm curcumin I (1); curcumin II (2), curcumin III (3). Cấu trúc các hợp chất phân lập được xác định bằng các phương pháp phổ phổ hiện đại.Nguyễn Thị HườngPGS.TS Đậu Bá ThìnThS. Vũ Hồng Nam
Copyright (c) 2025 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Hồng Đức
KÍCH THƯỚC MỘT SỐ CHIỀU ĐO VÀ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA CẦY VÒI HƯƠNG (PARADOXURUS HERMAPHRODITUS PALLAS, 1777) TRONG ĐIỀU KIỆN NUÔI NHỐT TẠI VƯỜN QUỐC GIA XUÂN LIÊN, THANH HOÁ
https://hdujs.edu.vn/index.php/hdujs/article/view/915
Nghiên cứu được thực hiện để đánh giá một số kích thước chiều đo và khả năng sinh trưởng của Cầy vòi hương trong điều kiện nuôi nhốt tại Vườn Quốc gia Xuân Liên, tỉnh Thanh Hoá. Kích thước các chiều đo bao gồm dài đầu, dài thân, dài đuôi (cm) được xác định trên 15 cá thể. Khối lượng cơ thể (kg) và tăng khối lượng trung bình/ngày (g/con/ngày) giai đoạn từ 2 đến 12 tháng tuổi được xác định trên 30 cá thể (20 cái và 10 đực). Kết quả cho thấy Cầy vòi hương có dài đầu, dài thân và dài đuôi tăng dần qua các tháng tuổi. Khối lượng trung bình của Cầy vòi hương tăng dần qua các tháng tuổi, trong đó giai đoạn từ tháng thứ 7 đến 12, cầy đực có khối lượng cơ thể lớn hơn cầy cái (P < 0,05). Tăng khối lượng trung bình của Cầy vòi hương tăng dần từ 2 đến 10 tháng tuổi, đạt cao nhất trong giai đoạn 9 - 10 tháng (12,72 g/con/ngày), sau đó giảm dần. Cầy vòi hương đực có mức tăng khối lượng trung bình/ngày cao hơn Cầy vòi hương cái ở hầu hết các giai đoạn theo dõi.TS. Phan Thị TươiThS Khương Văn Nam
Copyright (c) 2025 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Hồng Đức
2025-11-302025-11-30465310.70117/hdujs.81.11.2025.915ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ PHÂN BÓN NPK HỮU CƠ VI SINH DẠNG HẠT NPK 13-13-7+5% OM+10⁶ CFU/G (TN1) ĐẾN NĂNG SUẤT CÂY CAM VALENCIA LATE (V2) VÀ CÁC CHỈ TIÊU SỨC KHỎE ĐẤT TẠI TỈNH THANH HÓA
https://hdujs.edu.vn/index.php/hdujs/article/view/1101
Nghiên cứu thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả của phân bón NPK hữu cơ vi sinh (NPK 13-13-7+5% OM+10⁶ CFU/g (TN1)) trên cây cam trồng trên hai loại đất khác nhau và sử dụng ở giai đoạn bón lót, so sánh với dạng phân NPK 16-16-8 hóa học sử dụng phổ biến tại địa phương. Kết quả cho thấy việc sử dụng NPK hữu cơ vi sinh giúp cây cam sinh trưởng khỏe, tăng khả năng hấp thu dinh dưỡng và nâng cao mức độ chống chịu sâu bệnh. Mặc dù CT4 có hàm lượng NPK giảm so với Đ/C (tương ứng 185,0 - 201,3 kg/ha Nts + 125,0 - 141,3 kg/ha P2O5hh + 155,0 - 160,6 kg/ha K2Ohh), phân bón TN1 vẫn cho hiệu quả vượt trội khi bón với lượng tương đương, thể hiện qua mức tăng năng suất 10,2 - 10,5%, hiệu quả kinh tế tối ưu nhất tại công thức CT4 đạt 327,259 - 336,814 triệu đồng/ha. Đồng thời, phân bón hữu cơ vi sinh còn góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng N, P, K; bổ sung chất hữu cơ và hệ vi sinh vật có ích, giúp cải thiện độ phì và chất lượng đất, giảm nguy cơ thoái hóa đất và ô nhiễm môi trường.Nguyễn Hồng PhongNguyễn Viết GiangCử nhân Lê Thị Út PhươngThạc Sỹ Lê Trí Lực
Copyright (c) 2025 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Hồng Đức
2025-11-302025-11-30546210.70117/hdujs.81.11.2025.1101KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG THỊT CỦA HAI TỔ HỢP DÊ LAI ♂ JUMNAPARI x ♀ F1 (BÁCH THẢO x CỎ) VÀ ♂ BOER ♀ F1 (BÁCH THẢO x CỎ) NUÔI TẠI BỈM SƠN THANH HÓA
https://hdujs.edu.vn/index.php/hdujs/article/view/928
Nghiên cứu được thực hiện tại trang trại chăn nuôi tập trung của Công ty cổ phần giống gia súc Thanh Ninh, phường Quang Trung, tỉnh Thanh Hoá từ năm 2023 - 2024 nhằm đánh giá khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng thịt của hai tổ hợp dê lai ♂ Jumnapari x ♀ F1 (Bách Thảo x Cỏ) và ♂ Boer x ♀F1 (Bách Thảo x Cỏ). Kết quả cho thấy con lai được sinh ra từ tổ hợp ♂ Boer x ♀ F1 (Bách Thảo x Cỏ) có khả năng sinh trưởng tuyệt đối, sức sản xuất và chất lượng thịt cao hơn so với con lai từ tổ hợp ♂ Jumnapari x ♀ F1(Bách Thảo x Cỏ). Tỷ lệ thịt xẻ, tỷ lệ thịt tinh của dê lai ♂ Boer x ♀ F1 (Bách Thảo x Cỏ) là 51,72% và 40,54%; ở tổ hợp ♂ Jumnapari x ♀ F1 (Bách Thảo x Cỏ) lần lượt là 50,03% và 39,05%. Tỷ lệ mất nước của thịt khi bảo quản của hai tổ hợp là tương đương nhau. Diện tích cơ thăn của dê từ tổ hợp lai ♂ Boer x ♀ F1 (Bách Thảo x Cỏ) là 13,94 cm2 cao hơn so với dê lai tổ hợp ♂ Jumnapari x ♀ F1 (Bách Thảo x Cỏ) là 13,5 cm2. Sử dụng dê lai từ tổ hợp ♂ Boer x ♀ F1 (Bách Thảo x Cỏ) cho khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng thịt cao hơn so với dê lai tổ hợp ♂ Jumnapari x ♀ F1 (Bách Thảo x Cỏ).Tống Minh PhươngHoàng Văn SơnLê Văn Thành
Copyright (c) 2025 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Hồng Đức
2025-11-302025-11-30637110.70117/hdujs.81.11.2025.928ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH FASCIOLOSIS TRÊN ĐÀN BÒ NUÔI TẠI HUYỆN NHƯ THANH, TỈNH THANH HOÁ
https://hdujs.edu.vn/index.php/hdujs/article/view/950
Nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá độ an toàn và hiệu lực của hai loại thuốc Han-Dertil B (uống) và Dovenix (tiêm dưới da) trong điều trị Fasciolosis trên bò nuôi tại tỉnh Thanh Hoá. Thí nghiệm được thực hiện trên 60 con bò, chia làm 2 nhóm, mỗi nhóm 30 con. Các chỉ tiêu sinh lý (thân nhiệt, tần số mạch đập, tần số hô hấp, nhu động dạ cỏ) được theo dõi trước và sau khi dùng thuốc 6 và 12 giờ. Hiệu lực tẩy sán được đánh giá sau 1, 3 và 6 tuần. Kết quả cho thấy cả hai loại thuốc được sử dụng đều an toàn và hiệu quả cao. Sau 6 tuần điều trị, tỷ lệ bò sạch trứng sán đạt 93,3% với Han-Dertil B và 96,7% với Dovenix.Hoàng Văn Sơn
Copyright (c) 2025 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Hồng Đức
2025-11-302025-11-30727910.70117/hdujs.81.11.2025.950NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG VÔ TÍNH CÂY GIỐNG RAU ĐẮNG BIỂN (Bacopa monnieri (L.) Wettls) BẰNG PHƯƠNG PHÁP GIÂM HOM
https://hdujs.edu.vn/index.php/hdujs/article/view/995
Nghiên cứu này khảo sát ảnh hưởng của độ dài và vị trí hom, cũng như của thời vụ giâm hom lên tỷ lệ bật chồi, sinh trưởng và chất lượng cây giống khi xuất vườn của Rau Đắng biển. Kết quả cho thấy: Hom càng non, độ dài hom càng dài, thời gian sinh trưởng chồi càng ngắn; tỷ lệ hom ra lá mới, chiều cao cây, đường kính thân, số lá, và tỷ lệ cây giống xuất vườn càng cao. Trong đó, hom ngọn 10 cm có thời gian từ khi giâm đến bắt đầu ra lá là 3,66 ngày ngắn nhất; tỷ lệ ra lá 94,33%; chiều dài mầm: 6,8 cm; đường kính thân mầm: 2,5 mm; số đôi lá/thân mầm: 4,78; số rễ chính: 6,8 rễ; tỷ lệ cây giống xuất vườn: 90,0% đạt cao nhất. Thời vụ giâm hom Rau Đắng biển khác nhau có ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển và tỷ lệ cây giống xuất vườn. Trong đó, thời vụ giâm hom thích hợp nhất là 15/2 với các chỉ tiêu: thời gian từ giâm đến bắt đầu là 4,67 ngày, tỷ lệ hom ra lá mới 94,67%; chiều cao cây: 16,77 cm; đường kính thân 2,34 mm; số đôi lá 8,57; số rễ chính 6,80, tỷ lệ xuất vườn 93%. Những phát hiện này làm nổi bật vai trò quan trọng của đặc điểm giâm hom và thời điểm trồng trong việc tối ưu hóa sản xuất cây giống Rau Đắng biển.Lê Hùng TiếnThS Phạm Thị LýTrần Trung NghĩaNguyễn Trọng Chung
Copyright (c) 2025 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Hồng Đức
2025-11-302025-11-30808910.70117/hdujs.81.11.2025.995NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ GIỐNG LÚA PHỔ BIẾN TRỒNG TẠI TỈNH THANH HÓA
https://hdujs.edu.vn/index.php/hdujs/article/view/1001
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của bảy giống lúa trồng tại tỉnh Thanh Hoá. Kết quả cho thấy các giống có sự khác biệt rõ rệt về thời gian sinh trưởng, khả năng đẻ nhánh, chiều cao cây, số bông/m², khối lượng 1000 hạt và năng suất thực thu. Trong đó giống C ưu đa hệ số 1 và Thái Xuyên 111 cho năng suất cao (trên 8 tấn/ha), trong khi ST25 và VNR20 có chất lượng gạo tốt, thích hợp sản xuất hàng hóa chất lượng cao. Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học phục vụ lựa chọn, bố trí cơ cấu giống phù hợp với điều kiện sinh thái và định hướng sản xuất lúa bền vững tại Thanh Hóa.PGS.TS. Lê Văn TrọngLại Thị ThanhĐặng Thị Hồng Phương
Copyright (c) 2025 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Hồng Đức
2025-11-302025-11-30909810.70117/hdujs.81.11.2025.1001NGHIÊN CỨU TUYỂN CHỌN MỘT SỐ DÒNG DƯA LEO MỚI TRONG VỤ THU ĐÔNG NĂM 2023 TẠI THANH HÓA
https://hdujs.edu.vn/index.php/hdujs/article/view/909
Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định một số dòng dưa leo mới có năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn và chống chịu tốt với sâu bệnh hại. Vật liệu nghiên cứu gồm 08 dòng dưa leo được chọn lọc duy trì từ giống dưa leo nếp của địa phương. Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB). Kết quả nghiên cứu đã tuyển chọn được 01 dòng dưa leo DL16X23 có đặc điểm sinh trưởng tốt, tốc độ phân cành nhanh, thời gian sinh trưởng ngắn (73 ngày), nhiễm nhẹ hoặc chưa nhiễm các loại sâu bệnh hại chính. Bên cạnh đó, dòng dưa leo DL16X23 được tuyển chọn có năng suất cao (45,31 tấn/ha) và thích ứng với điều kiện canh tác trong vụ Thu Đông của tỉnh Thanh Hoá.Nguyễn Thị VânThạc sỹ Nghiêm Thị HươngTS Nguyễn Minh HồngThạc sỹ Nguyễn Văn Hạnh
Copyright (c) 2025 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Hồng Đức
2025-11-302025-11-309910510.70117/hdujs.81.11.2025.909